ghe

Bệnh ghẻ được biết đến từ hơn hàng nghìn năm, nhưng mãi đến thế kỷ 18 Diacinto Cestoni, một nhà sinh học người Ý, phát hiện ký sinh trùng gây bệnh ghẻ. Bác sĩ Hy Lạp Celsus được coi là người đặt tên cho căn bệnh “ghẻ” và mô tả các tính đặc trưng của bệnh.

Ghẻ có hình bầu dục có 4 đôi chân, 2 đôi trước có kèm theo các ống giác để hút, 2 đôi sau có sợ dây lông dài để di động, ghẻ đực bé hơn nhiều so với con cái.

Trên người, ghẻ ký sinh ở lớp sừng của da chúng tiết enzyme proteases để làm suy giảm lớp sừng, ăn các mô bị phân hủy, không hút máu, ghẻ có thể sống cho tới chừng 1-2 tháng. Khi ra khỏi cơ thể người, ghẻ không tồn tại hơn 48-72 giờ. Chết nếu tiếp xúc với nhiệt độ 50 °C trong 10 phút.

Trứng ghẻ được đẻ trong hang sau khoảng 8 ngày trứng nở ra ấu trùng, ấu trùng rời hang tìm một chỗ ẩn khác trong biểu bì, sau 5 – 6 lần lột xác (trong vòng 25 ngày) sẽ trở thành con ghẻ trưởng thành, con đực chết sau khi giao hợp.

ghe2

Biểu hiện của bệnh:

Đường hang (đường hầm): Là 1 đường cong ngoằn ngoèo hình chữ chi, dài 2 – 3 cm, gờ cao hơn mặt da, màu trắng đục hay trắng xám.

Mụn nước: Rải rác không tập trung thành đám, đường kính 1 – 2 mm, nằm ở cuối đường hang, đây chính là nơi cư trú của ghẻ.

Vị trí: Kẽ ngón tay, ngấn cổ tay, cùi tay, ngón chân, bờ trước nách, quanh rốn, kẽ mông, dưới vú (ở nữ), rãnh quy đầu. Trên lòng bàn tay và lòng bàn chân, là những nơi thường gặp ở trẻ sơ sinh.

Ngứa: Nhiều nhất về đêm, ngứa do ghẻ di chuyển gây kích thích đầu dây thần kinh cảm giác ở da và một phần do độc tố ghẻ cái tiết ra khi đào hang.

Chính do ngứa gãi đã gây nên biến chứng, làm đa dạng hình thái tổn thương: Vết xước, mụn mủ do nhiễm khuẩn, mụn nước tập trung thành đám trên nền da đỏ.   Ở trẻ em ghẻ nhiễm khuẩn không được điều trị có thể gây viêm cầu thận cấp

ghe4

ghe1

Thể đặc biệt: Ghẻ NaUy (Norwegian Scabies)

Được các thầy thuốc NaUy Boeck và Danielson mô tả lần đầu tiên năm 1947, hiện nay còn được gọi là ghẻ đóng vảy (Crusted scabies)

Bệnh gặp trên người có bệnh mạn tính kèm theo, điều kiện vật chất thiếu thốn, cơ thể suy mòn, suy giảm miễn dịch.

Biểu hiện của ghẻ đóng vảy:

Có nhiều vảy tiết và vảy da dày, khu trú ở bất kì vùng nào trên cơ thể, kể cả mặt, da đầu và móng tay. Vảy da, vảy tiết liên kết thành mảng rộng màu xám nhạt, dễ mủn.

Móng tay dày sừng, thân móng có những khía dọc, những chấm và bong khỏi nền móng

Vảy ở da đầu sau khi bong gây rụng tóc.

Ngứa có thể rất dữ dội hoặc ít nhưng liên tục kể cả ngày cũng như đêm.

Điều trị: Nguyên tắc:

Phát hiện sớm, điều trị sớm và đủ thời gian.

Điều trị cùng một lúc cả người bệnh và người sống chung trong gia đình, người ngủ chung một giường.

Bôi thuốc tại chỗ vào buổi tối, bôi trước khi đi ngủ.

Quần áo chăn màn phải được luộc sôi, vệ sinh phòng ở.

Thuốc: Tùy theo thể bệnh để điều trị

Ghẻ đơn thuần: Bôi DEP là tốt nhất.

Ghẻ bội nhiễm, ghẻ chàm hóa: Phải điều trị biến chứng trước, điều trị ghẻ sau.

ghe2a

ghe3 nauy