1. Tác nhân gây bệnh phong:

Tác nhân gây bệnh trong bệnh phong là trực khuẩn Mycobacterium Leprae còn gọi là trực khuẩn phong hay trực khuẩn Hansen (Bacille d´Hansen: BH). Đây là một vi khuẩn nội tế bào, có ái tính đặc biệt với tế bào Schwann của sợi thần kinh và các tế bào thuộc hệ thống liên võng nội mô (có nhiều ở da).

Trực khuẩn phong gây tổn hại thần kinh ngoại biên trong khi thần kinh trung ương không bao giờ bị tổn thương.

Cho đến nay, vẫn chưa nuôi cấy được trên môi trường nhân tạo.

Trực khuẩn phong phân chia 12-13 ngày 1 lần, nhiệt độ thích hợp cho sự nhân lên của vi khuẩn từ  350- 360 C, khi ra ngoài cơ thể nó có thể sống được 1-7 ngày.

Thời gian khi trực khuẩn phong xâm nhập vào cơ thể đến khi xuất hiện bệnh rất khó xác định, trung bình từ 2 đến 5 năm thậm chí lâu hơn.

2. Nguồn lây và cách lây truyền

- Nguồn lây:

Nguồn lây nhiễm là bệnh nhân mắc bệnh phong. Những bệnh nhân nhóm nhiều trực khuẩn khi chưa được điều trị là nguồn lây truyền quan trọng nhất.

Không tìm thấy vật chủ trung gian truyền bệnh như muỗi, rận, rệp và các côn trùng khác. Tuy nhiên, người ta đã phát hiện một số con Armadillo sống hoang giã cũng mang trực khuẩn phong.

- Cách lây truyền:

Lây truyền từ người này qua người khác, không phải bệnh di truyền.

Trực khuẩn phong trên người mắc bệnh phong được bài xuất qua đường mũi họng và qua các tổn thương có lở loét ở da.

Các vết xây xước, lở loét trên người chưa mắc bệnh phong là nơi giúp trực khuẩn phong đột nhập.

3. Yếu tố thuận lợi mắc bệnh phong

Miễn dịch trung gian tế bào (Cell Mediated Immunity: CMI) mạnh hay yếu có phần quyết định trong việc có bị bệnh hay không và nếu bị bệnh thì sẽ thuộc thể bệnh nào.

Yếu tố dinh dưỡng giảm làm tăng nguy cơ mắc bệnh.

Bệnh phong có thể gặp ở mọi lứa tuổi và mọi giới. Lứa tuổi hay gặp nhất là 10-20 tuổi, hiếm gặp ở trẻ sơ sinh.

4. Bệnh phong là bệnh lây, khó lây  và lây chậm

- Là bệnh lây: Do trực khuẩn phong gây nên

- Khó lây và lây chậm:

Người bị lây bệnh phải có tổn thương trên da như vết xây xước, lở loét và có tiếp xúc với nguồn vi trùng phong.

Sự nhân lên của trực khuẩn phong chậm.

Miễn dịch trung gian tế bào của người bị lây mạnh hay yếu.

5. Dấu hiệu sớm của bệnh phong

Trên da có dám, vết màu sắc khác với da bình thường

Tại đó giảm hoặc mất cảm giác: Tê tê, có cảm giác giống như vướng phải mạng nhện hoặc không biết đau khi cấu véo, không biết nóng hay lạnh.

6. Tàn tật trên bệnh phong

Tàn tật trong bệnh phong được chia thành 2 loại sau:

- Tàn tật tiên phát: Là loại tàn tật do trực khuẩn phong trực tiếp gây ra tổn thương dây thần kinh ngoại biên dẫn đến mất chức năng thần kinh.

Phát hiện sớm bệnh trong thời gian không quá 9 tháng và được điều trị đúng phác đồ, uống thuốc đều thì các chức năng thần kinh có thể hồi phục, tránh được các hậu quả trầm trọng.

Phát hiện bệnh muộn, dây thần kinh bị hủy hoại, chức năng thần kinh không thể phục hồi sẽ xuất hiện các dị hình, tàn tật.

Phát hiện bệnh muộn khi dây thần kinh bị hủy hoại lúc này chỉ điều trị được trực khuẩn phong nhưng không điều trị được dị hình.

- Tàn tật thứ phát

Tàn tật thứ phát là loại hình tàn tật do hậu quả của tàn tật tiên phát. Bản thân bệnh nhân không có ý thức tự giác trong chăm sóc làm nặng thêm.

Bệnh nhân mắc bệnh phong được gọi là tàn tật khi bàn tay, bàn chân và mắt bị tổn thương tùy theo mức độ được xếp như sau:

Tàn tật độ 1: Bàn tay, bàn chân: Bị mất cảm giác. Mắt: Thị lực ảnh hưởng không nghiêm trọng (có thể đếm được ngón tay ở khoảng cách 6 mét )

Tàn tật độ 2: Bàn tay, bàn chân: Có các dị hình nhìn thấy được (cò ngón, rụt ngón, cụt, rụt…). Mắt: Thị lực bị ảnh hưởng nghiêm trọng: Không đếm được ngón tay ở khoảng cách 6 mét, có mắt thỏ, đục giác mạc, viêm mống mắt thể mi.

7. Điều trị:

Bệnh nhân được điều trị bệnh phong tại nhà và được cấp thuốc miễn phí.

TT benh phong

Tan tat

Dau hieu som