1. Nhóm Aminosides hay Aminoglycosides

Streptomycin (có trên 21 tên khác), Dihydrostreptomycin (có trên 15 tên khác), Framycetin, Gentamycin (có trên 150 tên khác), Kanamycin (có trên 35 tên khác), Lividomycin (có trên 28 tên khác), Neomycin (có trên 50 tên khác), Paromomycin, Ribotamycin, Sisomycin, Spectinomycin, Tobramycin (có trên 25 tên khác)

2. Nhóm β lactam

- Nhóm β lactam các penicilin

- Nhóm β lactam các cephalosporin

3. Cloramphenicol và dẫn xuất

Cloramphenicol (có trên 120 tên khác), Sintomicin, Thiamphenicol.

4. Nhóm Tetracyclines

Tetracycline (có trên 200 tên khác), Clotetracyclin, Doxycyline, Minocyclin, Mophocyclin,  Oxytetracyclin (có trên 100 tên khác), Roliteraxyclin.

5. Nhóm Macrolides, Lincosamid Rifamycine

Erythromycin (có trên 120 tên khác), Lincomycin, Novobiocin (có trên 150 tên khác), Oleandomycin, Rifampicin, Rifamycin, Spiramycin, Troleandomycin.

6. Nhóm Quinolones

Acid Nalidixic (có trên 60 tên khác), Acid Oxolinic (có trên 25 tên khác), Acid Piromidic (có trên 15 tên khác).

7. Nhóm 5- Nitro- imidazoles (Nhóm nitroimidazol)

Clotrimazole, Metronidazole, Tinidazole, Secnidazole, Miconazole, ornidazole

8. Sulfamides

Sulfanilamid (có trên 25 tên khác), Sulfadiazin, Sulfametoxypyridazin (SMP) (có trên 60 tên khác), Sulfadimethocin, Sulfadimidin (có trên 25 tên khác), Sulfafurazol (có trên 30 tên khác), Sulfaguanidin, Sulfalen, Sulfamerazin, Sulfamethoxazol, Sulfamonomethoxin, Sulfamoxol, Sulfapyridin, Sulfathiazol.

10. Polypeptides

Colistin (có trên 20 tên khác), Bacitracin, Polymyxin B, Pristinamycin, Tyrothricin, Viomycin.

11. Các dẫn chất của Nitrofurane

Nitrofuratoin (có trên 70 tên khác), Furazolidon (có trên 20 tên khác), Nitrofural (có trên 35 tên khác).

12. Nhóm glycopeptide

Vancomycine, Teicoplanin

13. Các loại khác

Dịch tỏi, Berberin (là alcaloid chiết từ cây có tên Hoàng liên, Vàng đắng), Conesin (là alcaloid chiết từ vỏ cây Mức hoa trắng), Panmatin (là alcaloid chiết từ cây Hoàng đằng)

Đến năm 2010 thuốc kháng sinh có 17 nhóm với gần 500 tên thuốc (trong đó có 4 nhóm chuyên biệt là: Chống nấm, Chống lao, Chống  phong, Trị ung thư; còn lại là thuốc trị các bệnh nhiễm khuẩn thông thường.

Mỗi nhóm lại có các phân nhóm hoặc các thế hệ khác nhau.

Ví dụ: Nhóm β lactam các penicilin có 7 phân nhóm, mỗi phân nhóm lại có nhiều tên thuốc gốc, mỗi tên thuốc gốc có nhiều tên biệt dược khác nhau. Hay nhóm β lactam các cephalosporin có 4 thế hệ, mỗi thế hệ có nhiều tên thuốc gốc (khoảng 40 tên) và nhiều tên biệt dược khác nhau.

Ngoài ra còn nhiều biệt dược phối hợp 2 hoặc 3 kháng sinh với nhau hoặc kháng sinh với thuốc chống viêm mạnh để tăng tác dụng.

Các đối tượng phải đặc biệt lưu ý khi dùng kháng sinh

Phụ nữ có thai (đặc biệt là 90 ngày đầu tiên), phụ nữ cho con bú, trẻ em từ sơ sinh đến 6 tuổi, người có bệnh gan thận, người có cơ địa dị ứng, người cao tuổi.

An toàn, hiệu quả cho người dùng kháng sinh

- Với người bệnh:  Khi cần chữa bệnh bằng thuốc kháng sinh phải được bác sĩ khám bệnh, kê đơn (không tự ý dùng thuốc hoặc nghe người khác mách).

Trước khi dùng thuốc phải xem lại đơn bác sĩ về liều dùng, số lần dùng thuốc trong ngày, cách dùng thuốc, kiêng kỵ; sau đó xem tờ hướng dẫn sử dụng trong hộp thuốc về cách dùng, kiêng kỵ, tác dụng phụ… để dùng thuốc cho đúng, tránh những điều đáng tiếc. Xem hạn sử dụng của thuốc.

- Với bác sĩ: Phải kiểm tra tình trạng bệnh nhân (có thai, tiền sử dị ứng thuốc, các thuốc đang sử dụng…)  xác định đúng tác nhân gây bệnh và chọn loại thuốc thích hợp, tránh điều trị kiểu bao vây. Tốt nhất là làm kháng sinh đồ.

Nên uống thuốc kháng sinh  khi nào

- Những loại kháng sinh uống xa bữa ăn: Là những loại thuốc kém bền vững trong môi trường dịch vị hoặc bị giảm hấp thu do thức ăn. Nên uống 1giờ trước bữa ăn hoặc 2 giờ sau bữa ăn gồm có: Nhóm Penicillin ( Amoxycillin… khoảng 30 tên), nhóm Cephalosporin: Đây là nhóm thuốc được các bác sĩ ưa dùng nhất hiện nay, có khoảng 40 tên thuốc gốc, mỗi thuốc gốc lại có nhiều tên biệt dược. Ví dụ: cefuroxime có các biệt dược như zinnat, zencef, zinmax, zinacef, xorim, tarxim… nhóm Macrolid: Thường dùng nhất là clarythromycin, azithromycin, erythromycin.

- Những loại kháng sinh uống trong hoặc ngay sau bữa ăn: Là những loại không bị giảm hấp thu do thức ăn, hoặc kích thích đường tiêu hoá gồm có: Nhóm Quinolon, nhóm Nitroimidazol, nhóm Tetracyclin.

- Riêng loại viên bao tan trong ruột, không kể thuộc nhóm kháng sinh nào, đều có thể uống bất kể lúc nào no hay đói

Tương tác giữa kháng sinh với các thuốc khác

Tùy loại kháng sinh cụ thể, nếu có tương kỵ độc hại hoặc giảm tác dụng thì không được dùng cùng lúc

Thuốc kháng sinh nào tốt nhất? Không có thuốc tốt nhất chỉ có thuốc hợp với người bệnh nhất vì phụ thuộc vào:

Cách sử dụng, thời điểm đưa thuốc vào cơ thể

Sự hấp thu thải, trừ thuốc ở từng người bệnh

Sự tương tác khi cùng sử dụng nhiều loại thuốc.

Tác dụng phụ không mong muốn của thuốc.

Liều lượng thuốc, thời gian dùng thuốc.

Sự kháng kháng sinh của vi khuẩn.

Chọn thuốc

- Việc lựa chọn ban đầu dựa trên các tiêu chuẩn như

+ Ổ nhiễm khuẩn khởi điểm,

+ Tác nhân gây nhiễm,

+ Tình trạng bệnh,

+ Cơ địa bệnh nhân,

+ Mục đích sử dụng: dự phòng, điều trị theo kinh nghiệm hoặc điều trị sau khi xác định tác nhân gây bệnh.

- Cần phải cân nhắc về:

+ Cơ chế tác dụng,

+ Đặc tính dược học

+ Khả năng gây độc và sự tương tác của thuốc

+ Hiệu quả dự đoán

+ Sự an toàn, kinh nghiệm lâm sàng trước đó

+ Giá thành nếu có

+ Sự đề kháng và những nguy cơ liên quan với bội nhiễm.

- Các yếu tố liên quan cần xem xét kỹ như:

+ Cơ quan nhiễm khuẩn,

+ Tình trạng miễn dịch

+ Khả năng đào thải thuốc