1. Đại cương:

Ngứa là một triệu chứng cơ năng thường gặp ở các bệnh da và được định nghĩa như “là một cảm giác buộc người ta phải gãi”.

Ngứa có thể khu trú hoặc toàn thân.

Ngứa có thể có tổn thương ở da hoặc không có tổn thương ở da.

Ngứa có thể do bệnh tại da hoặc do bệnh nội tạng.

2. Chẩn đoán căn nguyên của triệu chứng ngứa lan toả.

2.1 Ngứa lan toả với các thương tổn da đặc hiệu

Triệu chứng ngứa có thể do nhiều bệnh da gây nên. Việc chẩn đoán bệnh dựa vào đặc điểm lâm sàng và/hoặc mô bệnh học của các thương tổn cơ bản. Các bệnh da có các thương tổn cơ bản đặc hiệu kèm theo triệu chứng ngứa:

- Mày đay và chứng vẽ nổi trên da

- Viêm da cơ địa.

- Nhiễm ký sinh trùng ngoài da: Ghẻ, Chấy, Rận.

- Vảy nến: 50% bệnh nhân vảy nến có triệu chứng ngứa.

- Lichen phẳng

- Bệnh da bọng nước do nguyên nhân tự miễn: Triệu chứng ngứa thường gặp và có thể xuất hiện trước các thương tổn da.

- Nấm da.

2.2 Ngứa lan toả với các thương tổn da không đặc hiệu:

Khám chỉ thấy các tổn thương da do gãi.

2.2.1 Bệnh toàn thân.

- Ứ mật: Ngứa có thể gặp do ứ mật trong hoặc ngoài gan, kèm theo hoặc không kèm theo vàng da (thường ngứa dữ dội gây mất ngủ trong những trường hợp vàng da tắc mật do ung thư đường mật hoặc ung thư tuỵ). Ngứa thường gặp trong xơ gan mật nguyên phát.

- Suy thận mạn phải thẩm phân lọc máu (suy thận cấp không gây ngứa).

- Bệnh máu ác tính: Bệnh tế bào Lympho (u lympho Hodgkin), chứng tăng hồng cầu Vaquez (ngứa tăng khi tiếp xúc với nước, đặc biệt là khi tắm nước nóng), bạch cầu cấp dòng lympho mạn tính…

- Các bệnh nội tiết và chuyển hoá: Cường giáp trạng, suy giáp trạng.

- Thuốc: Một số thuốc gây ngứa do tính chất dược lý của nó hoặc gián tiếp gây ứ mật. Các thuốc khác gây ngứa bởi cơ chế “dị ứng”.

- Nhiễm ký sinh trùng: Các ký sinh trùng nội sinh di chuyển đến các mô và tăng bạch cầu ái toan (bệnh nang sán, bệnh ấu trùng sán chó, sán lá, bệnh giun lươn, giun đũa, giun xoắn…)

- Một số bệnh khác: Thiếu sắt, thiếu các vitamin, bệnh Pemphigoid bọng nước, bệnh của hệ thống thần kinh trung ương (tổn thương não hoặc tuỷ), hội chứng cận u, ung thư…

2.2.2 Các yếu tố môi trường

- Các tác nhân kích thích: Thực vật, tơ thuỷ tinh, các chất tẩy rửa ăn da…

- Ngứa do nước: thường xuất hiện ngay khi tiếp xúc với nước ở nhiệt độ thông thường và không có bất cứ một biểu hiện nào trên da trừ triệu chứng ngứa.

- Khô da: Là một nguyên nhân chủ yếu của triệu chứng ngứa do yếu tố môi trường, đặt biệt hay gặp ở người già.

- Môi trường tự nhiên: Sự biến đổi nhiệt độ, độ ẩm.

3. Chẩn đoán căn nguyên của triệu chứng ngứa khu trú

Tất cả các bệnh da đều có thể liên quan đến triệu chứng ngứa khu trú, ít ra cũng ở giai đoạn đầu của bệnh.

3.1 Các bệnh nấm

Nhiễm nấm candida hoặc các bệnh nấm da thường gây ngứa và kết hợp với thương tổn da đặc hiệu.

3.2 Các bệnh ký sinh trùng

3.2.1 Nhiễm ký sinh trùng ngoài da: Thường gây ngứa khu trú kèm theo hoặc không có thương tổn cơ bản.

- Ngứa ở gáy và da đầu cần tìm chấy, rận, đặc biệt hay gặp ở trẻ em.

- Ngứa do ghẻ: lây lan, đôi khi bị cả một gia đình, ngứa tăng về đêm, thương tổn da nổi bật và đặc trưng là các đường hầm trên da do ghẻ cái đào để đẻ trứng và các thương tổn không đặc hiệu (vết cào gãi, vết xước, mụn nước…) khu trú ở các kẽ ngón, mặt trước cổ tay, nách trước, bộ phận sinh dục ngoài…

- Ngứa và xuất hiện các dát đỏ rải rác do các loại giun sán của chim, vịt gặp ở những người sau khi tắm, bơi lội ở ao, hồ.

3.2.2 Bệnh giun sán: Bệnh giun chỉ, giun móc, giun lươn…

3.3 Ngứa do côn trùng đốt (muỗi, bọ chét, rệp…): Đây là một nguyên nhân thường gặp, gây ngứa theo mùa và kết hợp với các thương tổn ở da.

3.4 Ngứa da đầu: Do không dung nạp với mỹ phẩm hoặc thuốc xịt tóc; ngứa kèm theo gàu da đầu; viêm da tiết bã nhờn; viêm da thần kinh.

4. Ngứa do tâm thần.

5. Ngứa ở một số cơ địa đặc biệt

5.1 Ngứa ở phụ nữ mang thai

- Do tình trạng ứ mật trong gan của phụ nữ mang thai: Ngứa toàn thân, ngứa dữ dội, xét nghiệm máu có tăng các transaminase và hoặc các muối mật.

- Một số bệnh da bọng nước tự miễn đặc hiệu ở phụ nữ mang thai (pemphigoide ở phụ nữ mang thai, phát ban đa dạng ở phụ nữ mang thai…)

5.2 Chứng ngứa tuổi già (“lão suy”) rất thường gặp, do một số thay đổi sinh lý liên quan đến sự lão hoá da và do hiện tượng khô da ở người già. Triệu chứng ngứa ở tuổi già có khi gây mất ngủ, nặng hơn có thể gây chứng trầm uất.

5.3 Ngứa ở người nhiễm HIV: thường gặp ở bệnh nhân AIDS. Ngứa có thể đi kèm hoặc không đi kèm với tình trạng phát ban dạng sẩn.

6. Các phương thức điều trị triệu chứng ngứa

6.1. Bôi tại chỗ

• Các thuốc gây tê

• Thuốc chống ngứa

• Thuốc làm mát

• Corticosteroids

• Thuốc làm mềm da

6.2. Thuốc có tác dụng toàn thân

• Điều trị nguyên nhân

• Kháng histamine

• Corticosteroids

• Thuốc đối kháng thụ thể opioid (opioid-receptor antagonist)

6.3. Các biện pháp khác

• Tia tử ngoại Ultraviolet B, dải rộng hoặc dải hẹp

• Tia tử ngoại Ultraviolet A

• Châm cứu

• Capsacain

• Kích thích điện qua da.

7. Các xét nghiệm cần thực hiện khi ngứa toàn thân

7.1. Xét nghiệm thường quy

• Công thức máu

• Creatinine

• Aspartate transaminase, alanine aminotransferase, alkaline phosphatase, bilirubin toàn phần

• Anti HCV

• TSH

• Xquang phổi

7.2. Đã có các kết quả xét nghiệm thường quy, xét nghiệm bổ sung

• Bộ xét nghiệm về dị ứng (allergy panel)

• Histamine

• Các chất chuyển hóa của tế bào mastocyte (Mast cell metabolites)

• Serotonin

• IgE toàn phần

• 5-HIAA nước tiểu

• Kháng thể kháng nhân (Antinuclear antibody)

• Kháng thể kháng ty lạp thể (Antimitochondrial antibodies)

• Kháng thể kháng transglutaminase mô (Antitissue transglutaminase antibodies)

• Lượng Calcium và phosphate trong máu

• Tốc độ lắng của hồng cầu

• Đường huyết đói, hemoglobin

• HIV

• CT scan toàn thân

• Thử dị ứng nguyên bằng phương pháp tiêm lẩy da và miếng dán trên da (Prick testing, patch testing)

• Phương pháp cố định miễn dịch (immunofixation) trong huyết thanh và nước tiểu

• Điện di protein trong huyết thanh và nước tiểu

• Sắt huyết thanh

• Sinh thiết da và miễn dịch huỳnh quang (immunofluorescence)

• Xét nghiệm phân tìm ký sinh trùng.